Một khi chúng ta «biết» phải làm gì, có vẻ như chúng ta phải có khả năng để làm điều đó! Những sự thay đổi bất thường này hiếm khi xảy ra và nhiều người lấy làm bối rối về điều đó. Tôi thường dùng ý tưởng đó để cố thuyết phục họ thử nêu gương về sự tử tế, khoan dung và giải quyết các xung đột vì lợi ích và đại điện cho con cái. Cha tôi chỉ có thể nhớ một vài chi tiết về việc nhận con nuôi và thề rằng ông không biết tên thật của tôi.
Vấn đề về niềm mong đợi những thiên đường trong quá khứ đã cản trở nỗ lực của chúng ta tìm tới ý nghĩa và niềm vui chính đáng của hiện tại. Rất nhiều cái chúng ta làm bị sự sợ hãi thất bại sai khiến. Tôi quay sang người bạn đang ngồi cạnh và hỏi «Phải chăng John có khiếu hài hước?».
Những gia đình làm đúng chức năng thường rất khéo cư xử khi cho con ra ở riêng. Giống như tất cả những điều quí báu mà chúng ta mong muốn dạy con cái mình- lòng trung thực, sự cam kết tự nguyện, tình thương, sự tôn trọng, lao động chăm chỉ- tầm quan trong lớn nhất về niềm hy vọng cũng cần phải được dạy thông qua tấm gương sống của chính chúng ta. Sự căng thẳng trong sự tiếp xúc với những người mà chúng ta yêu là do chúng ta hiểu quá rõ rằng mọi người và mọi thứ đều là những ký ức mau phai mờ.
Đúng là những loại thuốc chống trầm cảm hiện nay đã chứng tỏ hiệu quả nổi bật của chúng. Sự tìm kiếm một tình yêu lý tưởng vừa là triệu chứng ảo tưởng của tuổi trẻ vừa là nỗi khao khát lẫn nỗi sợ của tuổi trung niên. Trong trường hợp của căn bệnh tâm thần nghiêm trọng, chứng trầm cảm điên rồ hay bệnh tâm thần phân liệt, chúng ta mất hẳn khả năng giữ được mối quan hệ với thực tại khiến chúng ta không thể hoà nhập với thế giới một cách tự do được.
Nhiều người chọn sự tiếp tục cô đơn hơn là chấp nhận nhiệm vụ khó khăn để làm quen những người bạn mới vì nỗi sợ bị từ chối. Có thể ở đây cần một cuộc tranh luận khác về mức độ trong mọi thứ. Kết quả là sách bán rất chạy - và nó cũng không ít chân thật hơn bản gốc.
Câu bình luận này có thể coi là một lời khen, khơi gợi cảm giác vui buồn cay đắng lẫn lộn trong những bậc cha mẹ bất hạnh đó. Năm bốn mươi ba tuổi, tôi đang phải theo một khoá huấn luyện về tâm lý học liệu pháp. Đôi khi, chúng ta ôm chặt lấy sự đau lòng đó với một quyết tâm cay đắng khiến chúng ta bị ám ảnh bởi những người hay sự việc đã gây ra sự bất hạnh đó cho chúng ta.
Họ đã quá quen với việc tập trung tư tưởng vào những nỗi bất hạnh khốn khổ của mình và những hạn chế có thể gây ra do sự tuyệt vọng và lo lắng của họ đến nỗi mà chưa bao giờ họ nghĩ là có lợi gì từ tình trạng này. Thay cho được mong đợi để dậy sớm vào buổi sáng và đối mặt với những nhiệm vụ đáng sợ hay tẻ ngắt, khi ốm, chúng ta được an ủi là «hãy nghỉ ngơi đi». Đây không đơn giản là chúng ta may mắn có những người mà gánh nặng của họ lớn hơn gánh nặng của chúng ta.
Vấn đề là phải đặt ra câu hỏi nào. Hãy xem xét bất cứ một kẻ tù nhân trốn trại thành công nào, bạn sẽ thấy anh ta đầy trí tưởng tượng, những giờ lập kế hoạch, thường là hàng tháng, thậm chí hàng năm với những bước tiến vô cùng chậm chạp về phía tự do. Ý tưởng cho rằng chúng ta phải ngồi và nói về các vấn đề mình đang phải đương đầu và những điều chúng ta đã cố làm và thất bại đã áp đặt một tiến trình chậm chạp và vứt bỏ sự than vãn lên lối sống của chúng ta.
Người ta phản ứng rất khác nhau. Người ta dạy chúng ta làm những cái họ bảo chúng ta làm cho đến thời gian thích hợp- khi chúng ta được phép để bảo những người khác điều mà họ phải làm. Việc tiếp cận có phần nào dễ chịu hơn này đang cố gắng thiết lập các giới hạn hợp lý đối với lối cư xử của trẻ con và nó thích hợp để giảm bớt sự đối đầu.
«Tôi không biết là ông sẽ tìm thấy gì. Nếu đứa trẻ hỏi tại sao phải làm điều này, cha mẹ bị dồn tới câu trả lời chân thật: Để người ta có thể xác định ra hình dáng con nếu con bị bắt cóc. Chỉ khi những ước mơ của chúng ta bị cọ sát với thực tế thì tiếng kêu chói tai của nó mới làm cho chúng ta tỉnh ngộ hoặc điếc vĩnh viễn trước tiếng gọi của cuộc đời.